#GSNH 1498 – Chương 3
Mời Quý độc giả CLICK vào LIÊN KẾT HOẶC ẢNH bên dưới
Mở ứng dụng shopee - Chỉ 1 lần duy nhất để MỞ ỨNG DỤNG MUA SẮM và tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
https://s.shopee.vn/6VHuSTGgjg
Tôi mỉm cười khen ngợi: “Con vẽ đẹp lắm.”
Kẻ ác có trời trị, cuộc sống hiện tại của Lý Nghị là do chính anh ta lựa chọn, tôi sớm đã chẳng còn để tâm.
Sau này nghe nói Vương Tuyết Nhược lại mang thai con của Lý Nghị, nên cô ta càng lấn tới, chơi bài, đánh bạc.
Chẳng bao lâu, Lý Nghị lại nợ nần chồng chất.
Vương Tuyết Nhược quay về trút giận lên người hắn, chửi mắng hắn là “vô dụng”, là “đồ phế vật không kiếm ra tiền”.
Lý Nghị vừa phải chăm đứa con riêng hỗn láo của họ, vừa phải hầu hạ Vương Tuyết Nhược đang mang bầu to bụng.
Cả người hắn gầy rộc, hốc mắt lõm sâu, trông già hơn tuổi thật cả chục năm.
Có lần hắn gặp Trần Vi Vi ở chợ, kéo cô ấy khóc lóc kể khổ, nói Vương Tuyết Nhược đã đem bán đứa con riêng của họ sang Miến Điện.
Cô ta còn ngày ngày ve vãn đàn ông khác, bản thân hắn giờ đến cơm ăn cũng không có.
Trần Vi Vi lúc đó không dám nói với tôi, sợ tôi phiền lòng.
Mãi đến khi chuyện lớn xảy ra, cô ấy mới kể lại tình hình lúc đó:
“Thấy anh ta tội nghiệp, em đưa cho mấy trăm tệ mua đồ ăn. Ai ngờ… lại xảy ra án mạng.”
Hôm đó buổi sáng, nhân viên vệ sinh phát hiện vài khối thịt vụn trong thùng rác ven đường.
Ban đầu cứ tưởng là thịt heo, nhưng lại moi ra một ngón tay người.
Nhân viên vệ sinh lập tức báo cảnh sát, cảnh sát lần theo dấu vết, cuối cùng tra ra căn phòng trọ mà Lý Nghị thuê.
Khi phá cửa xông vào, Lý Nghị đang ngồi trên giường cười ngu, dưới đất còn vết máu chưa lau sạch.
Hóa ra Vương Tuyết Nhược bị hắn hạ độc bằng thuốc chuột, chết rồi bị chặt xác thành từng mảnh, vứt vào các thùng rác trong ngõ ngách thành phố.
Khi bị bắt, hắn hoàn toàn không phản kháng, chỉ lặp đi lặp lại:
“Cô ta đáng chết… cô ta lừa tôi… còn bán cả con tôi…”
8
Trong phòng thẩm vấn, Lý Nghị ngồi trên ghế sắt, vai rũ xuống, tóc khô xơ như một đống cỏ rối.
Cảnh sát hỏi hắn Vương Tuyết Nhược chết thế nào, hắn nhìn chằm chằm móng tay mình, ngẩn người một lúc rồi đột nhiên cười lớn, tiếng cười sắc nhọn rợn người:
“Cô ta hả? Cô ta đáng chết… ha ha ha, ai bảo cô ta lẳng lơ… ha ha ha…”
Cười chưa được mấy tiếng, hắn lại bắt đầu khóc hu hu:
“Ước gì Long Long ở đây… thằng bé ngoan lắm… mỗi lần ngoan là tôi mua cho nó Transformer, loại màu đỏ, phát sáng cơ…”
Cảnh sát bên cạnh thấy biểu hiện của hắn không giống người bình thường, lập tức gọi cho bệnh viện tâm thần.
Trong miệng hắn gọi “Long Long”, lúc thì là con ruột bị hắn bỏ rơi sáu năm trời ở quê, lúc lại thành đứa con riêng nhỏ hơn Long Long một tuổi mà hắn có với Vương Tuyết Nhược.
Khi cảnh sát hỏi hung khí gây án ở đâu, hắn đột nhiên ngồi thẳng dậy, mắt sáng rực đầy kỳ quái:
“Tôi với Tiểu Vân đang đi dạo bên bờ sông mà, cô ấy nói muốn gả cho tôi, tôi còn mua cho cô ấy váy đỏ giống Lâm Thanh Hà…”
“Tiểu Vân” là biệt danh hắn thường gọi tôi hồi còn yêu nhau.
Khi đó vừa tốt nghiệp đại học, hắn luôn nói, nếu kết hôn sẽ mua cho tôi chiếc váy đỏ giống hệt Lâm Thanh Hà.
Khi bác sĩ tâm thần đến trại giam để đánh giá, Lý Nghị đang ngồi xổm ở góc tường đếm kiến, ngón tay chấm chấm xuống đất, miệng lẩm bẩm:
“Một Long Long, hai Long Long…”
Bác sĩ giơ thiết bị lên quét trước mặt hắn, hắn ngẩng đầu nhìn:
“Tiểu Vân à? Cuối cùng em cũng đến rồi… anh đợi em lâu lắm rồi.”
Hắn bị tuyên án tử hình hoãn thi hành, nhưng do tâm thần không ổn định nên được chuyển sang bệnh viện tâm thần.
Đám trai bao trẻ của Vương Tuyết Nhược, nghe tin cô ta chết thì đêm đó đã thu dọn đồ đạc trốn sạch, ngay cả sổ tiết kiệm giấu dưới gầm giường cũng bị lục mất.
Những đứa con còn lại của cô ta không ai muốn nuôi, sau khi bên chính quyền địa phương đến xác minh, toàn bộ đều bị đưa vào trại trẻ mồ côi.
Vào tháng thứ ba kể từ khi Lý Nghị bị đưa vào bệnh viện tâm thần, bác sĩ điều trị chính của hắn gọi điện cho tôi.
“Cô Tống, tình trạng của Lý Nghị có chút đặc biệt. Trí nhớ của anh ta dừng lại ở thời điểm hai người đang yêu. Anh ấy vẫn nhớ cuốn tập thơ cô tặng khi còn hẹn hò, nhớ tiệm sách cũ hai người hay lui tới. Mỗi ngày anh ấy đều ngồi trong phòng chờ cô, nói rằng cô đã hứa sẽ dẫn anh ấy đi ngắm lá phong…”
Ông ấy dừng lại một chút, giọng có phần dò xét:
“Nếu có thể, cô có thể đến thăm anh ấy một lần không? Có lẽ sẽ giúp ích cho quá trình điều trị.”
“Không cần.” Tôi ngắt lời, giọng rất bình thản.
“Từ ngày ly hôn, tôi và anh ta đã không còn quan hệ gì nữa.”
Bác sĩ im lặng vài giây rồi cúp máy.
Lần cuối cùng tôi nghe tin về Lý Nghị là qua một cuộc gọi từ cảnh sát.
Hôm đó Long Long được nhận hoa điểm tốt ở trường, vui vẻ nhảy cẫng lên nhào vào lòng tôi, thì điện thoại cảnh sát gọi đến.
“Chào cô Tống, Lý Nghị đã tự tử bằng cách cắt cổ tay trong bệnh viện.” Giọng cảnh sát trầm xuống.
“Trên tủ đầu giường có để lại một bức thư, gửi cho cô. Cô có muốn chúng tôi đưa đến không…”
“Đốt đi.” Tôi cắt ngang.
Long Long đang ngẩng mặt nhìn tôi tò mò.
“Tôi không có hứng thú với bất cứ thứ gì của anh ta.”
Cúp máy, Long Long kéo kéo áo tôi:
“Mẹ ơi, ai gọi vậy?”
“Không có gì cả. Hôm nay Long Long giỏi lắm, muốn ăn gì nào? Mẹ làm sườn chua ngọt nhé?”
Thằng bé lập tức cười toe, vòng tay ôm cổ tôi:
“Con muốn ăn hai tô to!”
Giờ Long Long đã cao hơn năm ngoái nửa cái đầu, đường nét trên gương mặt bắt đầu rõ ràng, mỗi khi cười, bên khóe mắt lại hiện ra lúm đồng tiền nhỏ, giống tôi như đúc.
Lúc mới vào trường, thằng bé lúc nào cũng cúi đầu, nói năng thì thầm.
Bây giờ đã có mấy người bạn thân, sau giờ học về cứ líu ríu kể đủ thứ: ai mất cục tẩy, ai làm sai bài toán…
Tuần trước có hội thao ở trường, thằng bé đăng ký thi chạy 60 mét.
Tôi đến xem, thấy nó đứng ngay vạch xuất phát, dáng người nhỏ bé đứng thẳng tắp.
Khi nhìn thấy tôi, nó vẫy tay thật mạnh.
Khi tiếng súng vang lên, thằng bé như một con báo con lao về phía trước, cuối cùng giành giải nhất, chạy đến chỗ tôi giơ cao giấy khen:
“Mẹ ơi! Mẹ xem nè! Con được giải rồi!”
Thằng bé rất thích xếp lego, tôi đã chuẩn bị riêng cho nó một căn phòng đồ chơi, ngày nào sau khi tan học cũng lao vào, nằm bò trên thảm mềm để chơi lego.
Cái kết của Lý Nghị và Vương Tuyết Nhược là do chính họ lựa chọn.
Tôi sớm đã không để họ trong lòng nữa.
Vắc-xin mới tôi nghiên cứu đã hoàn toàn tiêu diệt được virus Ebola, năm nay tôi được trao Giải Nobel Y học.
Long Long lại khỏe mạnh, lớn lên từng ngày.
Với tôi, những ngày tốt đẹp nhất còn đang ở phía trước.
9
Mùa thu năm ngoái, tôi lấy tên Long Long thành lập một quỹ trẻ em, chuyên giúp đỡ các em nhỏ vùng nông thôn.
Long Long hỏi tôi: “Mẹ ơi, vậy có nghĩa là con cũng có thể giúp các bạn nhỏ khác đúng không?”
Tôi nói: “Đúng vậy. Long Long lớn rồi, có thể trở thành anh hùng nhỏ rồi.”
Hè năm nay, tôi đưa thằng bé đến Đại Lương Sơn.
Xe xóc nảy suốt hơn năm tiếng đồng hồ trên đường núi.
Long Long ngồi ở ghế sau, ôm một chiếc ba lô vải căng phồng, bên trong là những cuốn vở, bút chì, tẩy do chính thằng bé chọn từ trước.
Khi đi ngang triền núi giữa đường, Long Long bám vào cửa kính xe, thấy mấy đứa trẻ đi nhặt củi dọc đường, nó thì thầm với tôi:
“Mẹ ơi… tụi nó không có mang giày…”
Tới làng, trưởng thôn dẫn chúng tôi đến ngôi trường tiểu học.
Lớp học xây tường đất, gió lùa lạnh buốt, bảng đen được quét bằng mực tàu, đã bong tróc loang lổ.
Long Long đặt ba lô lên bàn, kéo khóa ra, móc từng món đồ dùng học tập ra và nhiệt tình nhét vào tay những đứa trẻ trong lớp.
Có một cô bé tết tóc hai bên, rụt rè co mình trong góc, không dám tiến lại gần.
Long Long chủ động bước tới, đưa cho cô bé quyển vở dày nhất, rồi lấy ra từ túi quần một thanh sô-cô-la, nhét vào tay cô bé: “Cho cậu này, ngon lắm đó.”
Cô bé lớn hơn Long Long hai tuổi, nhưng lại thấp hơn nó nửa cái đầu.
Trên người là bộ quần áo đã bạc màu vì giặt quá nhiều, chân trần lấm lem bùn đất, ngón chân co rúm lại, không dám ngẩng đầu lên.
Trưởng thôn đứng bên cạnh thở dài:
“Đứa nhỏ này khổ lắm. Năm ngoái cha mẹ nó lên núi hái thuốc, trượt chân ngã xuống vực không qua khỏi. Giờ sống với bà nội. Bà cụ trọng nam khinh nữ, bảo con gái thì học hành làm gì. Đợi năm sau gom đủ sính lễ là gả nó cho gã què ở làng bên, đổi lấy một con dê qua mùa đông.”
Tối đó về lại khách sạn ở trấn, Long Long cởi giày ra nhưng không còn nhảy nhót như mọi khi.
Nó ngồi ở mép giường, cúi đầu rất lâu, rồi đột nhiên ngẩng lên nhìn tôi, vành mắt đỏ hoe:
“Mẹ ơi, mình đưa bạn ấy đi cùng được không? Bạn ấy nói muốn đi học, muốn làm cô giáo, dạy chữ cho mấy bạn nhỏ trong làng.”
Thân hình nhỏ bé của nó nghiêng tới, khuôn mặt ngửa lên, lông mi còn vương giọt nước mắt:
“Hồi trước con không ai chăm, ngày nào cũng đói, sợ bị đánh. Lúc đó con chỉ ước có ai giúp con… Bây giờ con có mẹ rồi, có quần áo mới rồi, con muốn giúp bạn ấy.”
Mũi tôi cay xè, tôi xoa đầu con đầy thương xót.
Tôi tuy có thể nhận nuôi cô bé, nhưng vẫn cần ý kiến người nhà, đành nhờ trưởng thôn dẫn đến gặp bà cụ kia.
Ban đầu bà cụ ngẩng cổ không chịu:
“Con bé là người nhà tôi, muốn sắp xếp thế nào là quyền của tôi.”
Tôi đưa tiền mang theo cho bà, lại dặn trưởng thôn mỗi tháng sẽ gửi sinh hoạt phí, bà cụ mới miễn cưỡng gật đầu.
Ngày đưa cô bé đi, em đeo chiếc ba lô Long Long tặng, đi đôi giày thể thao màu hồng do chính Long Long chọn.
Khi xe bắt đầu chạy, em nghiêm túc nói với Long Long:
“Cảm ơn cậu. Tớ sẽ mang ơn cậu suốt đời.”
Sau đó tôi đưa cô bé đến trường nội trú ở thủ đô, hiệu trưởng mỗi tháng đều gửi tin nhắn khen ngợi:
“Con bé rất thông minh, học cũng siêng năng nữa.”
Tuần nào Long Long cũng viết thư cho em, cắt những bông hoa điểm tốt dán vào vở rồi gửi kèm theo.
Trong thư nó viết: “Lớp tớ hôm nay học thể dục, chạy 800 mét, tớ lại về nhất!”
Thư hồi đáp của cô bé luôn đến rất đúng hạn, chữ viết trên phong bì ngày càng tròn trịa, gọn gàng.